10 lời khuyên của các bà mẹ Tây dành cho con gái

Chào con gái,

Con đang sắp sửa được nghe người ta nói rất nhiều về tình yêu và hôn nhân trước khi con sẵn sàng để có thể hiểu được chúng. Cũng tốt thôi bởi đó là việc lý giải vì sao con cần có mẹ. Có quá nhiều thứ để mẹ có thể nói cho con biết hay dạy cho con nhưng khả năng của ngôn ngữ thì lại có hạn. Nhưng chúng ta hãy bắt đầu bài học đầu tiên bằng một số lời khuyên mà mẹ muốn con ghi nhớ thật kỹ và hiểu về chúng càng sớm càng tốt.

1.Tình yêu sẽ hạ gục con nhiều lần hơn là khi nó có thể nâng đỡ con dậy.

2. Không phải mọi người đàn ông nói yêu con đều có nghĩa là họ yêu con thật. Thực tế, hầu hết họ chẳng yêu gì con. Nhưng nếu khi anh ta yêu con, thực sự yêu con thì dù anh ta chẳng nói con cũng sẽ cảm nhận được.

3. Lần đầu tiên trong đời khi con nghĩ là con bắt đầu yêu, rất có thể lần đó con vẫn chưa sẵn sàng.

4. Nếu anh ta không biết mình đang có cái gì (ở con), xin hãy đừng chờ đợi đến khi anh ta hiểu rõ điều đó vì như thế rất có thể con đang đánh mất cơ hội có một cuộc sống tốt đẹp hơn với người đàn ông tốt hơn.

5. Hãy kết hôn với người đàn ông yêu con nhiều như khi anh ta yêu mẹ mình. Chỉ có người đàn ông đó mới biết tôn trọng những giá trị của người phụ nữ.

6. Nếu con không tự tôn trọng mình, anh ta cũng sẽ không tôn trọng con.

7. Hãy biết chờ đợi cuộc sống tình dục (ví dụ như khi con đã đủ lớn hay khi con đã kết hôn) để khi đó nó trở nên một thứ quan trọng nhất với con. Nếu không thể, hãy thật cẩn thận với vấn đề này.

8. Nếu cô bạn gái của con nổi tiếng là người có nhiều cuộc hẹn hò, đừng bao giờ nghe lời khuyên của cô ta.

9. Nếu anh ta yêu con, anh ta sẽ mong muốn những gì tốt nhất cho con  kể cả khi việc đó khiến anh ta trở thành kẻ thất bại.

10. Nếu anh ta cầu hôn con và con vẫn cảm thấy có chút gì đó do dự trước khi trả lời, hãy nói Không. Hôn nhân là một sự cam kết cả đời và chắc chắn là con sẽ không muốn bước vào đó với một thái độ chông chênh. Hãy tin vào linh cảm của mình.

(Lược dịch từ: Man, Wife and Dog)

Categories: Nhặt nhạnh 4 phương | Leave a comment

Những bí mật về “CEO thời chiến”

Họ cũng là những CEO nhưng được giao nhiệm vụ “phá vỡ tất cả những quy tắc, những luật lệ”, được phép “tiền trảm hậu tấu” để chèo lái công ty vượt qua thời kỳ gian khó.

Từ câu chuyện của Google

Những ngày qua, giới công nghệ ở Silicon Valley truyền tai nhau một đoạn hội thoại được “chế” lại theo một đoạn trong cuốn tiểu thuyết kinh điển “Bố già”. Trong đoạn hội thoại giữa nhân vật Tom Hagen, người cố vấn thân cận nhất với ông trùm Michael Corleone, Tom đã hỏi: “Mike, vì sao tôi bị loại?” và câu trả lời của ông trùm là: “Ông không phải là nhà lãnh đạo của thời chiến. Mọi thứ sẽ rất khắc nghiệt khi chúng ta chuyển hướng”.

Đoạn hội thoại được “chế” chỉ có điểm khác là nhân vật Tom Hagen được thay bằng Eric Schmidt và Michael Corleone là Larry Page.

Và đó cũng chính là một trong những bí mật rất ít người biết về cuộc chuyển giao lãnh đạo vừa qua ở Google. Ông Eric Schmidt – người đã từng chỉ huy con tàu Google chạy phăng phăng suốt hơn 10 năm qua với vô số những thành công và hiện vẫn đang là hãng công nghệ Internet lớn nhất thế giới đã quyết định từ chức để Larry Page, một đồng sáng lập hãng lên thay thế.

Đối với giới công nghệ ở Silicon Valley, Page là một người khá nhút nhát, ít nói, sống hơi khép kín thay vì phong cách quảng giao như Schmidt.

Nhưng vì sao ông Schmidt lại bị truất ngôi dù mọi việc ở Google vẫn đang khá ổn và ông này cũng không hề có “phốt” nào? Đơn giản là ban lãnh đạo Google đã xác định rằng hãng sắp sửa bước vào “thời chiến” và Schmidt là vị CEO chỉ phù hợp với “thời bình”.

CEO thời chiến – Họ là ai?

Có thể hiểu “thời kỳ hòa bình” của một công ty là khi nó đang tận hưởng những lợi thế vượt trội so với các đối thủ trên thị trường lõi của mình đồng thời thị phần của nó vẫn đang liên tục tăng trưởng. Trong thời kỳ hòa bình, nhiệm vụ chính của CEO là tập trung vào việc “bành trướng” và tăng cường sức mạnh của công ty.

Còn “thời chiến” là khi một công ty buộc phải đưa ra những quyết sách mạnh mẽ nhằm bảo vệ sự tồn vong của mình trước hàng loạt những mối đe dọa đến từ bên ngoài lẫn bên trong. Những sự đe dọa ấy có thể đến từ sự cạnh tranh của các đối thủ, từ sự biến động bất thường của nền kinh tế vĩ mô hay đơn giản là mục tiêu của thị trường đã thay đổi dẫn đến chuỗi cung ứng cũng thay đổi…

Ví dụ điển hình nhất về thời kỳ hòa bình của một doanh nghiệp chính là sự thành công của Google trong suốt hơn 1 thập kỷ qua. Còn thời kỳ chiến tranh là vào khoảng giữa những năm 1980 của thế kỷ trước, khi Intel bị buộc phải đối đầu với các hãng bán dẫn Nhật Bản nếu không muốn phải phá sản hoặc từ bỏ lĩnh vực chủ chốt nhất chiếm hơn 80% số nhân công của hãng.

Cũng bởi hoàn cảnh khác nhau nên phong cách quản lý của các CEO thời chiến và CEO thời bình cũng rất khác nhau nhưng có một điều quan trọng là hầu hết các giáo trình đào tạo về quản trị hiện nay mới chỉ đề cập và hướng dẫn mọi người “cách làm một CEO thời bình” kiểu như: Đừng bao giờ làm mất mặt một nhân viên của mình trước đám đông. Nhưng Andy Grove, cựu Tổng giám đốc của Intel, một trong những “CEO thời chiến” huyền thoại đã từng thẳng thừng mắng vào mặt một nhân viên dưới quyền trước mặt rất nhiều người vì “tội” đi họp muộn: “Tất cả những gì tôi có trên thế giới này chỉ là thời gian và anh đang làm lãng phí thời gian của tôi”.

Trong thời bình, những lãnh đạo cần phải tối đa hóa và  liên tục mở rộng những cơ hội mới cho công ty nên yêu cầu tất yếu đối với họ là cần phải áp dụng những kỹ thuật nhằm khuyến khích sự sáng tạo một cách rộng rãi và chấp nhận sự đóng góp ý tưởng từ rất nhiều nguồn khác nhau. Ngược lại, trong thời chiến, yêu cầu đầu tiên là toàn bộ công ty phải trở thành “một viên đạn duy nhất” bằng mọi giá phải nhắm thẳng và đi một mạch đến đích dưới sự quản lý cực kỳ gắt gao và khoảng thời gian ngắn nhất.

Hẳn nhiều người còn nhớ, khi ông Steve Jobs quay trở lại Apple lần thứ 2, hãng này đã gần như phá sản hoàn toàn – một tình huống thời chiến kinh điển. Khi đó, ông Jobs yêu cầu tất cả các nhân viên phải chấp hành một cách chính xác tuyệt đối mọi mệnh lệnh cũng như kế hoạch của ông. Tại Apple khi đó, không có chỗ cho bất kỳ một sự sáng tạo cá nhân nào ngoài mục tiêu chính của công ty.

Ngược lại, ở thời bình, Google đã và đang tiếp tục cho phép (thậm chí là bắt buộc) các nhân viên được sử dụng 20% khoảng thời gian làm việc hàng ngày cho các dự án cá nhân.

Dưới đây là những sự khác biệt cơ bản nhất giữa một “CEO thời chiến” và một “CEO thời bình”:

-CEO thời bình biết chắc chắn rằng những giải pháp, công cụ đúng đắn sẽ mang đến chiến thắng. CEO thời chiến lại phải biết phá vỡ tất cả những quy tắc thông thường để chiến thắng.

- CEO thời bình tập trung vào bức tranh toàn cảnh và trao cho các nhân viên của mình quyền được quyết định những chi tiết. CEO thời chiến cần phải quan tâm đến từng “hạt bụi” tại công ty nếu nó có tác động đến hướng đi chuyển động.

- CEO thời bình xây dựng một cỗ máy tuyển dụng khổng hồ. CEO thời chiến cũng có thể làm thế nhưng còn cần phải xây dựng một phòng nhân sự có khả năng… sa thải hàng loạt.

- CEO thời bình dùng thời gian để tạo dựng văn hóa doanh nghiệp. CEO thời chiến để cho “cuộc chiến tranh” tạo ra văn hóa.

- CEO thời bình biết cần phải làm gì với những lợi thế vượt trội mà họ đang có. CEO thời chiến coi đó là sự hoang tưởng.

- CEO thời bình cố gắng tối đa để không sử dụng các ngôn từ tục tĩu. CEO thời chiến đôi khi coi việc sử dụng ngôn từ “mạnh” là trường hợp cần thiết.

- CEO thời bình nhắm đến mục tiêu mở rộng thị trường. CEO thời chiến nhắm đến việc chiến thắng thị trường.

- CEO thời bình cố gắng kiên nhẫn với những sự thất bại, sai sót nhỏ khi đã nỗ lực và sáng tạo nhưng với CEO thời chiến, đó là hành động không thể tha thứ.

- CEO thời bình thường không bao giờ lên giọng, CEO thời chiến ít khi nói ở ngữ điệu và âm vực bình thường.

- CEO thời bình làm việc để hạn chế tối đa những sự xung đột. CEO thời chiến khuyến khích và đề cao sự khác biệt, tương phản giữa các cá thể.

- CEO thời bình đào tạo nhân viên để đảm bảo sự thỏa mãn và phát triển sự nghiệp của mình nhưng CEO thời chiến đào tạo nhân viên để làm sao họ đừng “chổng mông” vào cuộc họp của công ty.

Liệu một người có thể đóng cả 2 vai không?

Vấn đề đặt ra là một Ceo thời bình có thể tự trở thành một CEO thời chiến hoặc ngược lại không? Rõ ràng, thực tế đã cho thấy trường hợp này là có nhưng vô cùng hiếm hoi.

Hãy nhìn vào ví dụ của John Chambers, một vị CEO thời bình đã từng đưa Cisco “lên mây” nhưng lại vô cùng chật vật khi phải điều hành hãng này “chiến đấu” chống lại Juniper, HP và một loạt những đối thủ cạnh tranh mới.

Nhưng Steve Jobs, một người vô cùng nổi tiếng khi điều hành Apple trong “thời chiến” nhưng đã bị “bật bãi” khỏi hãng trong thời kỳ hòa bình sau đó và chỉ trở lại chiếc ghế cao nhất của Apple khi hãng này đang trên bờ vực phá sản. Ông đã đưa Apple trở lại, chiến thắng trên hầu hết các mặt trận mà Apple tham gia và sắp tới, khi Apple bước vào thời kỳ hòa bình, nhiều người tin rằng Jobs sẽ rút lui kể cả khi sức khỏe của ông cho phép.

Đối với một CEO, để có thể trở thành người lãnh đạo công ty trong cả thời bình và thời chiến, ông ta cần phải cực kỳ thành thạo những kỹ năng lãnh đạo và biết được khi nào cần phải tuân theo “sách vở” và khi nào cần phải dẹp bỏ những quy định khuôn sáo đó.

Hãy cảnh giác và nhớ rằng, hầu hết các giáo trình về quản lý doanh nghiệp hiện nay trên thế giới đều được viết ra dựa trên nghiên cứu những thành công của các doanh nghiệp trong thời bình nên chúng không hề mang lại một chút kinh nghiệm nào khi công ty bước vào thời chiến.

Có lẽ, các nhà quản trị cần phải mang sách vở đến học trực tiếp ở chỗ Steve Jobs hay Andy Grove.

Categories: ICT | Leave a comment

10 điểm khác nhau giữa Quảng cáo và PR

Nếu bạn đang tìm kiếm một công việc hay đang cố gắng quảng bá công ty của mình, bạn có thể có rất nhiều câu hỏi về mối quan hệ giữa Quảng cáo và PR.

Đây là hai lĩnh vực rất khác nhau cho dù chúng thường xuyên bị nhầm lẫn, bị coi là một hoặc coi như nhau.

Dưới đây là 10 điểm dễ nhận thấy nhất trong số rất nhiều những điểm khác biệt giữa hai ngành Quảng cáo và Quan hệ công chúng (PR).

1. Trả tiền đăng báo hay Miễn phí

Quảng cáo:

Công ty của bạn phải trả tiền cho phần “đất” quảng cáo. Bạn biết chính xác khi nào quảng cáo của bạn sẽ được đăng tải hoặc phát sóng.

PR:

Việc của bạn là phải “kiếm” được các phần “đất” miễn phí cho công ty mình. Từ việc họp báo đến thông cáo báo chí, bạn phải tập trung vào việc xuất hiện trên báo một cách miễn phí dưới dạng những bài viết hoặc tin về công ty và sản phẩm, dịch vụ của mình.

2. Kiếm soát việc sáng tạo hay Không sáng tạo

Quảng cáo:

Bởi vì bạn trả tiền để đăng quảng cáo, cho nên bạn có toàn quyền sáng tạo những gì bạn muốn đưa ra trong quảng cáo đó.

PR:

Bạn không có quyền điền khiển việc báo chí sẽ thể hiện thông tin về bạn như thế nào hay họ có đăng cho bạn hay không. Họ không nhất thiết phải đăng tải thông tin về sự kiện của bạn hay thông cáo báo chí của bạn chỉ bởi vì bạn đã gửi đến cho họ.

3. Thời hạn

Quảng cáo:

Bởi vì bạn trả tiền quảng cáo, bạn có thể đăng đi đăng lại bao lâu mà bạn muốn, chừng nào ngân sách của bạn còn cho phép. Thông thường vòng đời của một quảng cáo thường dài hơn rất nhiều so với một thông cáo báo chí.

PR:

Bạn chỉ gửi một thông cáo báo chí về một sản phẩm mới của bạn duy nhất một lần. Bạn cũng chỉ gửi thông cáo báo chí về cuộc họp báo của bạn một lần. Và khả năng đưa tin trên báo dưới dạng bài viết PR cũng chỉ có thể xuất hiện được một lần. Không có bất kỳ ông tổng biên tập nào lại đăng tại cùng một thông cáo báo chí của bạn trên ba hay bốn số báo.

4. Khách hàng khôn ngoan

Quảng cáo:

Khách hàng biết ngay khi họ đọc một quảng cáo là: “người ta đang tìm cách bán hàng hóa và dịch vụ cho mình đây!”

Khách hàng hiểu rằng bạn phải trả tiền để gửi thông điệp bán hàng đến cho họ, và thật không may, khách hàng thường xuyên xem những thông điệp bán hàng của bạn một cách hết sức thận trọng. Và rốt cuộc, họ biết rằng bạn đang tìm cách bán hàng cho họ.

PR:

Khi một độc giả đọc một bài báo viết về sản phẩm và dịch vụ của bạn hay xem một bản tin trên ti vi, họ thường cho rằng bạn không trả tiền cho các tin này và họ xem xét, lắng nghe chúng một cách khác hẳn so với việc xem quảng cáo.

Khi bạn xuất hiện trên báo chí, truyền hình dưới dạng tin, bài độc lập, bạn có thể tạo dựng được uy tín lớn đối với khách hàng về sản phẩm và dịch vụ của mình.

5. Sáng tạo hay Nhạy cảm thông tin

Quảng cáo:

Trong quảng cáo, bạn phải thử thách khả năng sáng tạo của mình trong việc tạo ra một chiến lược và chất liệu quảng cáo mới.

PR:

Trong PR, bạn phải có một khả năng nhạy cảm với tin tức và có khả năng tạo ra dư luận từ tin tức đó. Bạn phải thử thách khả năng sáng tạo trong việc tạo ra một tin tức mới có khả năng thu hút sự chú ý của giới truyền thông.

6. Trong nhà hay Trên phố

Quảng cáo:

Nếu bạn đang làm cho một công ty quảng cáo, các quan hệ chính của bạn là những người cộng sự và các khách hàng của công ty. Nếu bạn thay mặt khách hàng mua đất để quảng cáo và lập kế hoạch về thời gian đăng quảng cáo, thì bạn cũng chỉ phải làm việc với bộ phận khách hàng của các báo, đài.

PR:

Bạn quan hệ với giới truyền thông, báo chí và xây dựng quan hệ với họ. Quan hệ của bạn không chỉ giới hạn ở việc giao tiếp “trong nhà”. Bạn luôn luôn quan hệ chặt chẽ với các “đầu mối” quan trọng tại các báo, đài.

7. Khách hàng mục tiêu hay Các ông tổng biên tập quen biết

Quảng cáo:

Bạn tìm kiếm khách hàng mục tiêu của mình và quảng cáo tập trung vào nhóm đối tượng này. Chắc chắn bạn sẽ không quảng cáo đồ dành cho phụ nữ trên các tạp chí thể thao dành cho đàn ông.

PR:

Bạn cần phải có quan hệ trước với các tổng biên tập hoặc biên tập viên và làm cho họ sử dụng thông tin của bạn cho các bài báo của họ, hay đăng thông cáo báo chí hoặc đưa tin về sự kiện của bạn.

8. Quan hệ hạn chế và Không hạn chế

Quảng cáo:

Một số bộ phận thuộc công ty quảng cáo như phòng Kế toán có thể phải làm việc với khách hàng thường xuyên. Nhưng những người khác như đội ngũ viết lời cho các quảng cáo (copywriters) hay hoạ sỹ thiết kế có thể chẳng bao giờ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng cả.

PR:

Trong PR, bạn luôn có mặt, và giữ quan hệ với báo giới. Một chuyên gia PR không phải chỉ được người ta gọi đến khi có những tin tốt lành.

Nếu có một sự cố trong công ty của bạn, bạn có thể phải là người phát ngôn hoặc xuất hiện trước ống kính truyền hình để trả lời phỏng vấn. Bạn có thể đại diện công ty của mình như một phát ngôn viên tại các sự kiện của công ty. Hoặc bạn có thể làm việc trong các mối quan hệ cộng đồng để làm cho công chúng thấy rằng công ty của bạn đang tham gia tích cực vào các việc tốt và cam kết đóng góp vào công việc chung của thành phố/đất nước và của người dân.

9. Các sự kiện đặc biệt

Quảng cáo:

Nếu công ty của bạn tài trợ cho một sự kiện, bạn có thể sẽ không muốn bỏ tên mình ra ngoài danh sách nhà tài trợ trên phông sân khấu để chứng tỏ công ty của bạn lớn mạnh như thế nào. Đây chính là lúc để cho bộ phận PR nhảy vào việc.

PR:

Nếu bạn đang tài trợ cho một sự kiện, bạn có thể phát hành một thông cáo báo chí và báo giới có thể đăng tải. Họ có thể đăng thông tin bạn gửi tới hoặc đưa tin về sự kiện.

 10. Phong cách viết

Quảng cáo:

Hãy mua sản phẩm này! Hành động ngay bây giờ! Hãy gọi cho chúng tôi ngay hôm nay! Đây là những gì bạn có thể nói trong một quảng cáo. Bạn muốn sử dụng những từ mạnh mẽ như thế để thôi thúc khách hàng mua sản phẩm của bạn.

PR:

Bạn đang phải viết một cách nghiêm túc với một lối thể hiện tin tức “không được phép” nhạt nhẽo. Bất kỳ một thông điệp mang tính thương mại, chào hàng nào trong các giao tiếp của bạn sẽ không được giới truyền thông coi trọng.

Categories: Nhặt nhạnh 4 phương | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com. The Adventure Journal Theme.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.